tứ phân ngũ liệt



四分五裂 sì fēn wǔ liè

四 tứ = bốn. Hình lỗ mũi với hai vệt nước. Nghĩa gốc là nước mũi, mượn (giả tá) chỉ số 4.
分 phân = chia. Dùng dao 刀 (hình cây dao, âm Hán Việt là đao) phân chia một khúc cây thành hai đoạn 八. 
五 ngũ = năm. Dùng số gạch 一 二 三 để biểu thị 1, 2, 3 thì rất dễ thấy, nhưng nếu tiếp tục dùng với 5 thì sẽ rất rối. Vì thế người ta dùng hai gạch chéo nhau X biểu thị 5. Theo th gian hai gạch chéo ban đầu thành chữ 五 ngày nay.

Trước khi học chữ tiếp theo, ta cần học hai chữ sau:
liệt gồm bộ xương 歹 và cây dao 刂 (cách viết khác của chữ đao 刀 vừa học trên), Nghĩa gốc là chia ra (lấy dao lóc xương ra). Nghĩa rộng là bày ra, dàn hàng. Dùng làm danh từ thì có nghĩa là hàng, dãy, đoàn. Liệt trong liệt vị, liệt cường, liệt kê đều là chữ liệt 列 này. (Liệt trong liệt sĩ thì viết khác)
y = áo. Vẽ hình (tượng hình) cái áo.
裂 liệt  = vải vụn sau khi cắt 列 áo 衣 còn dư. Liệt 列 còn chỉ âm đọc. Mở rộng nghĩa thành cắt, rách, xé ra rồi chia tách, li tán
列 cũng có một nghĩa là chia tách, nên có khi cũng dùng thay 裂. 
四分五裂 tứ phân ngũ liệt = chia bốn tách năm, hay như ta hay nói chia năm xẻ bảy. Tiếng Anh là to disintegrate; be all split up; fall apart; be at sixes and sevens. 

Chữ 裂 ở ba dạng: triện, lệ và khải thư. Hình trên trang http://qiyuan.chaziwang.com/ 



Comments

Popular posts from this blog

Bài đọc thêm. Thuyết Văn Giải Tự

Bài 4 Quy tắc bút thuận

thiên biến vạn hóa